ĐIỀU GÌ ĐANG THÚC ĐẨY SỰ BÙNG NỔ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO CỦA VIỆT NAM?

18/02/2021 admin

Cũng như nhiều quốc gia khác, việc ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng đã thúc đẩy năng lượng xanh của Việt Nam.

Năm 2014, công suất của năng lượng tái tạo phi thủy điện ở Việt Nam (gồm năng lượng mặt trời, gió và khí hóa sinh khối) ở mức 109 megawatt (MW), chiếm khoảng 1/3 trên tổng công suất 34.079 MW của cả nước. Vào thời điểm đó, hỗn hợp điện của Việt Nam chủ yếu được sản xuất từ thủy điện (46%), than (29%) và khí đốt tự nhiên (22%). Đến cuối năm 2019, năng lượng gió và mặt trời đã chiếm 5.700 MW công suất lắp đặt, khoảng 10% tổng nguồn cung. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đã chứng kiến năng lượng gió và năng lượng mặt trời phát triển từ 0% đến 10% nguồn cung chỉ trong vòng 5 năm. Điều gì đang thúc đẩy sự bùng nổ năng lượng tái tạo này?

  

Động lực chính là tốc độ tăng trưởng bùng nổ của Việt Nam. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng 6% trở lên mỗi năm kể từ năm 2014, đạt 7% trong năm 2018 và 2019. Sự tăng trưởng nhanh chóng này đang thúc đẩy tiêu thụ năng lượng với tốc độ phi thường. Công ty điện lực nhà nước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đã chứng kiến lượng năng lượng bán ra tăng từ 128,6 terawatt giờ (TWh) năm 2014 lên 209,4 TWh vào năm 2019. Mức tiêu thụ điện đã tăng hơn 11% mỗi năm, tăng với tốc độ nhanh hơn đáng kể so với GDP. Điều này thúc đẩy nhu cầu gần như vô độ đối với việc phát điện và đầu tư nhiều hơn.

Trong lịch sử, sự phụ thuộc vào thủy điện của Việt Nam khiến Việt Nam gặp bất lợi vì tính bền vững của việc tạo ra năng lượng bằng cách ngăn đập các con sông bị hạn chế và địa chính trị của các nguồn thủy điện được chia sẻ trong khu vực đã trở nên xấu hơn. Chắc chắn Việt Nam không thể cung cấp năng lượng cho mức tăng trưởng kinh tế này một cách vô thời hạn bằng thủy điện. Vậy còn than và khí tự nhiên, những nguồn sản xuất điện khác thì sao? Tính đến năm 2015, Việt Nam là nhà nhập khẩu ròng than, nhập khẩu 43,7 triệu tấn trong năm 2019. Nhập khẩu khí đốt tự nhiên và dầu thô cũng tăng mạnh kể từ năm 2014.

Điểm mấu chốt là việc sản xuất nhiên liệu hóa thạch trong nước không thể theo kịp tiêu thụ, buộc Việt Nam phải mua thị trường để đảm bảo đủ nguyên liệu cho lưới điện. Giống như trường hợp của Thái Lan, khi không muốn phụ thuộc vào nhập khẩu để cung cấp năng lượng cho lưới điện của mình, chính phủ Việt Nam đã thực sự chú trọng việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Cho đến nay, Việt Nam đã đi theo mô hình này khá chặt chẽ.

Năm 2017, các cơ quan quản lý của Việt Nam cho phép EVN trả mức giá hấp dẫn 9,35 cent/ kilowatt giờ để mua điện mặt trời từ các nhà sản xuất độc lập. Mức giá này được coi là động lực hiệu quả cho sự tăng trưởng đột biến trong năng lượng tái tạo trong điều kiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, mức giá cao không hẳn sẽ thành công, nó phải đi kèm với sự hỗ trợ về thể chế và chính trị, đặc biệt là từ cơ quan quản lý mà trong trường hợp này là EVN. Trước đây, thông qua các công ty con, EVN độc quyền truyền tải và phân phối điện tại Việt Nam và đã kiểm soát khoảng 60% thị trường phát điện. Tại sao EVN lại bắt đầu với tham vọng năng lượng tái tạo này, nơi mà chắc chắn EVN phải nhường thị phần cho các công ty điện mặt trời và điện gió?

Bên cạnh thực tế là nhập khẩu than và khí đốt tự nhiên đang làm tăng chi phí sản xuất (không thể dễ dàng bù đắp được thông qua giá bán lẻ cao hơn, do giá điện tiêu dùng ở Việt Nam được chính phủ kiểm soát cẩn thận). Một nỗ lực lớn hơn nhiều của chính phủ chính là thúc đẩy cải cách thị trường để Việt Nam thân thiện hơn với đầu tư. Điều này liên quan đến việc giảm vai trò của nhà nước trong các lĩnh vực then chốt và chứng minh rằng Việt Nam là nơi mà vốn tư nhân có thể tạo ra lợi nhuận lành mạnh. Chính phủ Việt Nam nhận thức được rằng đất nước sẽ cần dòng vốn lớn để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế chóng mặt. Riêng trong lĩnh vực điện, Báo cáo thường niên năm 2017 của EVN ước tính họ sẽ cần 22 tỷ USD đầu tư vào năm 2020 để theo kịp nhu cầu. Cuối cùng, đây là điều đã tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong lĩnh vực năng lượng trong một khoảng thời gian ngắn như vậy đó là nhập khẩu năng lượng đang làm tăng chi phí sản xuất cho EVN, và gây nguy hiểm cho an ninh năng lượng do đặt tiện ích này lên trên giá hàng hóa toàn cầu.

Đồng thời, đội ngũ lãnh đạo của đất nước cũng mong muốn mở rộng vai trò của vốn tư nhân như một động lực thúc đẩy tăng trưởng và họ biết rằng để làm được điều đó, họ phải đẩy mạnh cải cách trong các lĩnh vực quan trọng trước đây do các công ty nhà nước chi phối. Tốc độ mà EVN đã sử dụng nguồn cung cấp điện để gia nhập năng lượng tái tạo từ các nhà sản xuất tư nhân sẽ mang lại tín hiệu tích cực cho các thị trường. Nhưng nó cũng nhấn mạnh một thực tế rằng khi nói đến chuyển đổi năng lượng tái tạo, bắt buộc phải nhìn xa hơn các giải pháp kỹ thuật hoặc chính sách đơn thuần và xem xét tất cả các lực lượng chính trị và kinh tế liên quan đến hình thái sản xuất này./.

 

(Thu Hường dịch) Theo: Cục Thông tin đối ngoại

Tải thêm tin tức